Trang

Thứ Hai, 17 tháng 9, 2012

Rơi xuống biển

Gio&nuoc,17/9/12: Mấy hôm nay chẳng buồn ngó ngàng chi blog, cũng chẳng hiểu tại sao. Tư dưng chiều nay buồn buồn định gõ vài chữ nhưng rồi cũng chịu vì chẳng nghĩ được cái gì, đầu óc nó u u mê mê ... 
Chợt nhớ đến cái truyện ngắn của Winston Churchill (cố Thủ Tướng nước Anh) người duy nhất là nguyên thủ một quốc gia đoạt giải Nobel văn học (năm 1953) cho đến nay. Cái truyện ngắn này mình rất thích và đã đọc đi đọc lại hàng rất rất nhiều lần mà vẫn thích. Nay chán chán nên ngồi chịu khó gõ lọc cọc, bê nguyên cả truyện lên đây coi như một cách đọc lại vậy. Thực ra việc ngồi gõ lọc cọc một thứ của người khác như này lên blog thì từ trước tới nay chưa bao giờ làm cả, nhưng hôm nay không hiểu sao lại siêng năng đột xuất thế chứ lị...

RƠI XUỐNG BIỂN
Tác giả: Winston Churchill (1874-1965).
Dịch giả: Phạm Viêm Phương

Lúc hơn 9giờ rưỡi một chút người đàn ông đó té xuống biển. Con tàu chở thư ấy đang vội vã vượt Biển Đỏ để bù lại quãng thời gian tàu bị trôi dạt vì những dòng hải lưu ngoài Ấn Độ dương.

Đêm trong veo, tuy rằng mặt trăng bị khuất sau những đám mây. Bầu không khí ẩm đầy những hơi ẩm. Mặt nước biển chỉ bị xao động theo đường con tàu vừa chạy qua, từ hai bên hông tàu, những gợn sóng dạt ra như những cái lông gắn ở đuôi mũi tên, những sóng bọt ở đuôi tàu chỗ cánh quạt cứ sủi lên vạch một đường hẹp dài chạy tới cuối chân trời đen sẫm.

Trên tàu đang có một buổi hòa nhạc. Hành khách vốn quá chán với chuyến hành trình đơn điệu của chuyến hành trình đã tụ tập quanh chiếc dương cầm ở phòng hội. Các boong tàu vắng hoe. Người đàn ông đã nghe nhạc, hát theo những bản đàn, nhưng căn phòng quá nóng và ông muốn ra ngoài hút một điếu thuốc, hứng chút gió do tốc độ con tàu mang lại. Đó là luồng gió duy nhất trên Biển Đỏ này đêm nay.

Chiếc thang dây bên hông tàu người ta đã không gỡ ra từ khi rời cảng Aden và ông ta bước ra ngoài như bước ra một bao lơn. Ông tựa lưng vào bao lơn và trầm tư nhả từng ngụm khói vào không khí. Chiếc dương cầm trỗi một nhịp điệu sống động và một giọng hát cất lên những câu đầu của bài “the Rowdy Dowdy Boys”. Tiếng quay của chân vịt tàu bị chìm đi nhưng vẫn nghe đều đặn theo tiếng nhạc. Ông ta biết bản nhạc này, nó đã từng làm ưa gió ở mọi nhà hát hồi ông rời que nhà sang Ấn độ bảy năm trước. Nó khiến ông nhớ lại những đường phố đông đúc và tươi vui đã lâu rồi không gặp nhưng sắp được thấy lại. Ông định hát theo bản nhạc thì thanh lan can, do không được bắt vít chặt, bất ngờ tuột ra và ông té ngửa xuống mặth nước ấm áp phía dưới là nước bắn tung lên.

Trong giây lát đầu tiên ông ta quá ngạc nhiên không nghĩ được gì cả. Rồi ông nhận ra mình phải gào lên. Thế là ông gào lên trước khi kịp trồi lên tới mặt nước. Nên chỉ phát ra một tiếng kêu bị bóp nghẹt, khản đặc, không thành lời gì cả. Trí óc kinh hoàng của ông bật ra chữ “Cứu tôi với” và ông gào nó lên một cách mê hoảng liên tiếp sau bảy lần. Rồi ông lắng nghe.

Nào! Nào! Tránh đường ra
Cho bọn trai du thủ du thực nào.

Đoạn điệp khúc đồng ca bay là là trên mặt nước tới chỗ ông vì con tàu đã vượt hẳn qua chỗ ấy. Tai nghe nhạc như một nỗi kinh hoàng vô hạn đâm suột trái tim ông. Bây giờ ý thức ông mới nhận ra rằng có thể chẳng ai biết mà vớt ông lên được. Tiếng hát lại tiếp tục:

Rồi … tao … nói … Máy nhóc,
Trời sinh những cuộc chơi cho ai?
Rum…tum… tidli… um…
Thằng nào dám uống với tao đây?

- Cứu tôi với! Cứu tôi với! – Ông ta gào lên, lần này thì với nỗi kinh hoàng đến tuyệt vọng.

Lâu lâu lại thèm một cốc
Lại thèm chốn la lối chơi
Ê! Ê! Tránh đường coi.
Cho cái lũ du côn đây!

Những lời hát cuối kéo dài và nhỏ dần đến tắt hẳn. Con tàu vẫn lao tới trước. Lời ca đoạn hai bắt đầu bghe thấp thoáng và rời rạc với khoảng cách mỗi lúc mỗi xa. Cái khối sắt đen ngòm ấy cứ mờ dần đi, ánh đèn ở đuôi tàu ngày càng héo hắt.

Ông khởi sự bơi theo nó với tất cả sức lực, độ mươi sải tay thì dừng lại gào rú đến điên dại. Mặt biển chao sóng vì con tàu chạy qua đã bắt đầu bằng yên lại, những đợt song lan ra chỉ còn lại gợn lăn tăn. Tiếng chân vịt quẫy động xì xịch loang dần lên cao rồi tan mất. Âm thanh của chuyển động, của cuộc sống và âm nhạc tắt hẳn.

Con tàu chỉ còn là một đốm sáng mờ lẻ loi tan dần trong tối đen của biển. Bóng lờ mờ của nó in trên nền trời xám đục.

Rồi sau cùng, ông ta cũng nhận thức ra và ngừng bơi. Chỉ còn một mình-bị bỏ rơi. Khi hiểu ra thì trí óc bắt đầu quay cuồng. Ông lại bắt đầu bơi, có điều thayvì thỉnh thoảng gài lên thì ông cầu nguyện, những lời cầu rối loạn, ròi rạc, những lời lẽ cứ trộn lộn vào nhau.

Đột nhiên một tia sáng lóe lên và sáng dần ở xa xa.
Một nỗi vui mừng và hy vọng cuồn cuộn chảy qua trí óc. Họ đã dừng lại, quay mũi tàu và đi ngược lại. Cùng với hy vọng là lòng tạ ơn. Lời cầu nguyện của ông đã được đáp ứng. Những câu tạ ơn lắp bắp tràn qua môi. Ông ngừng bơi và nhìn chăm chăm vào đốm sáng-linh hồn để cả trong đôi mắt. Trong khi đó, ánh sáng cứ mờ dần đi một cách từ ốn nhưng chắc chắn. Ông rồi hiểu ra số phận mình đã được định đoạt. Sự tuyệt vọng thay thế niềm hy vọng; câu nguyền rủa thay cho lời tạ ơn. Quạt cánh tay đập vào mặt nước, ông gào lên bất lực. Những câu chửi thề điên khùng nhất bật ra, cũng rối loạn rời rạc như những lời nguyện cầu lúc nãy, và cũng không hề được đoái hoài.

Cơn mê loạn qua đi, càng bị thúc qua mau vì cảm giác mệt mỏi mỗi lúc càng tăng. Ông trở nên im lặng – im lặng như mặt biển, vì ngay cả những gợn sóng lăn tăn giờ cũng đã tắt hẳn và trở thành một bề mặt phẳng lỳ loang loáng. Ông bơi một cách máy móc theo hướng tàu chạy, lặng lẽ khóc thầm trong nỗi bi thảm của sợ hãi. Ngonnj đèn sau lái tàu chỉ còn là một đốm vàng nhỏ chẳng lớn hơn mấy vì sao rải rác đâu đó sau màn mây trên trời.

Gần hai mươi phút sau, sự mệt mỏi biến thành kiệt quệ. Ý thức về điều tất yếu, điều không thể tránh khỏi đè lên ông. Trong nỗi rã rời đó lại có cảm giác thoải mái kì lạ – ông chẳng việc gì phải cố bơi cho tới kênh Suez cả. Có một con đường khác. Cái chết. Ông sẽ lui ra khỏi cõi tồn sinh này một khi ông đã bị bỏ rơi như thế. Ông bất giác giơ hai tay lên và chìm xuống.

Ông chìm xuống, xuống nữa trong khối nước ấm áp. Cái chết vật lí tóm lấy ông, ông bước vào cái chết đuối. Nỗi đau đơn vì cú tóm dã man ấy khiến ông nóng máu. Ông điên cuồng chống lại nó. Vung đạp chân tay, ông tìm đường trở lại với khí trời. Đó là một cuộc chiến gian nan, nhưng ông đắc thắng thoát được và trồi lên tới mặt nước. Trên đó, nỗi tuyệt vọng đã chờ sẵn. Mệt mỏi quạt đôi tay qua lại, ông rên lên trong nỗi bi thảm đắng cay:
- Không được rồi… Tôi phải chết. Chúa ơi! Hãy để tôi chết.

Vầng trăng lưỡi liềm chui ra khỏi những đám mây vây bủa, rọi một ánh nhợt nhạt dịu dàng xuống mặt biển. Dựng thẳng đứng trên mặt nước, cách chỗ ông chừng năm mươi thước là một vật tam giác đen bóng. Đó là cái vây lưng. Nó chậm rãi tiến về phía ông ta.

Lời kêu cầu sau cùng của ông đã được lắng nghe tới.

Không có nhận xét nào: